Ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xanh, bền vững ở tỉnh Nam Định
1. Mở đầu
Kinh tế xanh là nền kinh tế vừa mang lại phúc lợi cho con người và công bằng xã hội, vừa giảm thiểu đáng kể các nguy cơ về môi trường và suy giảm sinh thái. Để phát triển kinh tế xanh cần cơ cấu nền kinh tế gắn với các mô hình tăng trưởng xanh dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (KH,CN&ĐMST).
Hiểu một cách khái quát, kinh tế xanh bảo đảm tăng trưởng kinh tế bền vững, ngăn chặn ô nhiễm, suy thoái môi trường và khai thác sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên. Kinh tế xanh cũng bao gồm năng lượng xanh - dựa vào năng lượng tái tạo và sử dụng năng lượng có hiệu quả, giảm thiểu sự nóng lên toàn cầu và nước biển dâng.
Ngày 16/8/2023 UBND tỉnh Nam Định ban hành Kế hoạch số 113 KH-UBND Hành động về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050, trong đó mục tiêu được xác định: “Hành động về tăng trưởng xanh góp phần vào mục tiêu cơ cấu lại nền kinh tế gắn với mô hình tăng trưởng, nhằm đạt được thịnh vượng về kinh tế, bền vững về môi trường và công bằng về xã hội trên địa bàn tỉnh Nam Định; hướng tới nền kinh tế xanh, trung hòa các-bon và đóng góp vào mục tiêu hạn chế sự gia tăng nhiệt độ toàn cầu”
2. Một số kết quả hoạt động KH,CN&ĐMST đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xanh, bền vững ở tỉnh Nam Định
2.1. Về hoạt động nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao công nghệ
Đã ứng dụng nhanh, rộng rãi, có hiệu quả và bền vững các công nghệ mới, công nghệ xanh, sạch vào các lĩnh vực kinh tế của tỉnh, ngăn chặn công nghệ lạc hậu, công nghệ có hại đến sức khỏe con người và tài nguyên, môi trường phục vụ phát triển kinh tế xanh của tỉnh.
Các nhiệm vụ KH&CN được triển khai phục vụ phát triển kinh tế xanh tập trung vào các ngành/lĩnh vực: Nông nghiệp, phát triển nông thôn; Công nghiệp và xây dựng; Tài nguyên và môi trường; Ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số,...
- Lĩnh vực phát triển nông nghiệp và nông thôn: Các nghiên cứu, ứng dụng đều hướng tới việc phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hữu cơ và an toàn; xây dựng các mô hình sản xuất nông nghiệp hàng hóa theo chuỗi giá trị; thúc đẩy thương mại hóa các sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh với một số nhiệm vụ KH&CN cụ thể: Xây dựng mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng theo hướng hữu cơ, sử dụng công nghệ sinh học thay thế thuốc kháng sinh và hóa chất; Nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất rau theo hướng hữu cơ và tổ chức sản xuất liên kết tại tỉnh Nam Định; Nghiên cứu tuyển chọn, lưu giữ và nhân nuôi sinh khối một số loài tảo biển giàu dinh dưỡng làm thức ăn nuôi ngao giống trên địa bàn tỉnh Nam Định;Nghiên cứu hoàn thiện quy trình sản xuất probiotic - đa enzyme và ứng dụng bổ sung trong thức ăn nuôi trồng thủy sản, xử lý môi trường nuôi nhằm tăng hiệu quả kinh tế và đảm bảo tính bền vững tại tỉnh Nam Định; Sản xuất thử và hoàn thiện quy trình canh tác giống lúa thuần KOJI tiến tới công nhận lưu hành giống cây trồng...
Đã tiếp nhận, ứng dụng 45 quy trình công nghệ, xây dựng 15 mô hình ứng dụng tiến bộ KH&CN sản xuất liên kết chuỗi trong lĩnh vực nuôi thủy hải sản, giống cây trồng, chăn nuôi, nông nghiệp công nghệ cao. Hoàn thiện 20 quy trình công nghệ của lĩnh vực sản xuất thức ăn chăn nuôi, sản xuất các giống lúa năng suất chất lượng cao…
- Lĩnh vực tài nguyên và bảo vệ môi trường: Các nhiệm vụ KH&CN tập trung vào các vấn đề cấp thiết nhằm ngăn ngừa, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường do hoạt động của con người và tác động của tự nhiên gây ra, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ đa dạng sinh học,… với một số nhiệm vụ KH&CN tiêu biểu như: Xây dựng mô hình khôi phục rừng ngập mặn bằng các loại cây có khả năng thích nghi tốt hơn tại Vườn Quốc gia Xuân Thủy như: Bần chua; Bần không cánh; Nghiên cứu đánh giá ô nhiễm làng nghề cơ khí và xây dựng mô hình thí điểm hệ thống xử lý nước thải làng nghề tại xã Xuân Tiến, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định,...
- Lĩnh vực công nghiệp: Đã thực hiện các nhiệm vụ KH&CN như: Nghiên cứu thiết kế, chế tạo và ứng dụng thử nghiệm thiết bị điều khiển đèn chiếu sáng công cộng từ Trung tâm thông qua mạng thông tin di động trên một số tuyến phố của thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định; Nâng cao nhận thức sử dụng năng lượng tiết kiệm trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Nam Định; Nghiên cứu đề xuất giải pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất tại các cơ sở hoạt động hóa chất trên địa bàn tỉnh Nam Định,…
- Lĩnh vực ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số: Thực hiện kế hoạch chuyển đổi số của tỉnh nhằm nâng cao công tác cải cách hành chính, xây dựng trường học thông minh, đô thị thông minh, đã thực hiện một số nhiệm vụ KH&CN như: Hỗ trợ triển khai các giải pháp ứng dụng công nghệ thông minh trong giáo dục tại 04 trường tiểu học, trung học, phổ thông trung học trên địa bàn tỉnh; Xây dựng mô hình dạy học kết hợp tại trường Trung học phổ thông Chuyên Lê Hồng Phong và một số trường Trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Nam Định; Ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện nhiệm vụ Cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh Nam Định; Phát triển công nghệ xây dựng xã thông minh tại tỉnh Nam Định.
2.2. Về hoạt động thẩm định công nghệ
- Công tác thẩm định công nghệ của các dự án đầu tư được thực hiện nghiêm túc theo quy định góp phần hạn chế tình trạng doanh nghiệp nhập khẩu các thiết bị, máy móc công nghệ lạc hậu gây lãng phí đầu tư và ô nhiễm môi trường. Đã tổ chức hội đồng thẩm định công nghệ 03 dự án trong giai đoạn quyết định chủ trương đầu tư (Nhà máy điện rác Greenity Nam Định; Dự án Nhà máy Thép Xanh số 1 Xuân Thiện Nam Định; Nhà máy Thép Xanh Xuân Thiện Nghĩa Hưng).
Tham gia ý kiến về công nghệ cho các dự án đầu tư, cụ thể: Dự án tổng kho xăng dầu Trường An của công ty cổ phần Tập đoàn Đầu tư phát triển Trường An; Dự án xây dựng và kinh doanh hạ tầng Cụm công nghiệp làng nghề Hải Vân, huyện Hải Hậu; Dự án Xây dựng nhà máy thực phẩm công nghệ cao tại xã Hiển Khánh, huyện Vụ Bản; Phương án xử lý nước thải dự án mở rộng công suất của nhà máy xử lý nước thải KCN Bảo Minh; Phương án xử lý Trạm xử lý nước thải KCN Hòa Xá,….
2.3. Về hoạt động quản lý nhà nước về an toàn bức xạ hạt nhân
Những năm gần đây, bức xạ hạt nhân được ứng dụng mạnh mẽ trong các lĩnh vực công nghiệp, y tế,… do vậy cũng tồn tại những nguy hại cho sức khỏe con người. Để đảm bảo an toàn bức xạ trong lĩnh vực y tế, công nghiệp đòi hỏi phải có sự quản lý chặt chẽ từ các cơ quan chức năng. Trong năm qua Sở KH&CN đã quản lý 81 cơ sở có sử dụng nguồn phóng xạ, thiết bị bức xạ, thiết bị X-quang chẩn đoán trong y tế với 09 thiết bị phổ kế huỳnh quang tia X xác định tuổi vàng, 01 nguồn gắn kèm thiết bị dùng trong công nghiệp, 04 máy phát tia X dùng trong công nghiệp, 01 máy gia tốc xạ trị và 107 thiết bị X-quang đang hoạt động. Các thiết bị đều được Cục An toàn bức xạ và Sở KH&CN cấp phép hoạt động.
2.4. Về hoạt động tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng
Góp phần thúc đẩy tăng trưởng xanh, việc xây dựng và thực hiện các tiêu chuẩn “xanh”, áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng; công cụ cải tiến năng suất chất lượng; chứng nhận sản phẩm phù hợp Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia; Tiêu chuẩn Quốc gia có vai trò, ý nghĩa hết sức quan trọng.
Với sự ra đời và song hành của các tiêu chuẩn, đặc biệt là những tiêu chuẩn “xanh”, các doanh nghiệp có thể có thể chủ động tham gia bảo vệ môi trường, đồng thời tối ưu hóa khả năng sản xuất, kinh doanh thông qua tiết kiệm nguyên - nhiên vật liệu, sử dụng nguyên vật liệu tái tạo, giảm khí nhà kính, giảm thời gian chờ, đảm bảo đáp ứng quy định đo lường như lượng hàng đóng gói sẵn; Giúp hệ thống nông nghiệp thông minh điều chỉnh phù hợp với cây trồng vật nuôi, đồng thời tiết kiệm năng lượng, thức ăn chăn nuôi, phân bón...; Góp phần xây dựng đô thị thông minh, cung cấp các dịch vụ tiện ích cho người tiêu dùng đặc biệt trong tiêu thụ điện.
Trong năm qua, Sở KH&CN đã hỗ trợ cho 36 doanh nghiệp áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng,công cụ cải tiến năng suất chất lượng, chứng nhận sản phẩm phù hợp Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia, Tiêu chuẩn Quốc gia. Hướng dẫn 60 doanh nghiệp xây dựng tiêu chuẩn cơ sở, 15 doanh nghiệp công bố sản phẩm phù hợp quy chuẩn kỹ thuật; phù hợp tiêu chuẩn Quốc gia của 10 loại sản phẩm.
3. Kết luận
Tóm lại, kinh tế xanh là xu thế phát triển chung của thế giới, là điều kiện tất yếu, cũng như cơ hội để tỉnh Nam Định hội nhập và phát triển bền vững. Tuy nhiên, muốn thực sự phát triển kinh tế xanh, tỉnh Nam Định cần thiết phải triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp KH,CN&ĐMST thúc đẩy kinh tế xanh, trong đó, cần sự đồng thuận của các cấp chính quyền trong việc thực hiện cũng như giám sát, đánh giá quá trình triển khai thực hiện.
Đối với ngành KH&CN cần tập trung: Ứng dụng, chuyển giao cho các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân trong tỉnh ứng dụng các thành tựu KH&CN tiên tiến trong và ngoài nước để phát triển sản phẩm chủ lực địa phương, các sản phẩm mới có giá trị gia tăng và lợi thế cạnh tranh cao nhất là ở các lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ năng lượng mới, công nghệ sạch, thân thiện với môi trường, công nghệ phục vụ phát triển công nghiệp hỗ trợ. Hỗ trợ các doanh nghiệp triển khai các hệ thống quản lý, mô hình, công cụ nâng cao năng suất xanh, năng suất bền vững dựa trên nền tảng số và đổi mới sáng tạo. Hỗ trợ nâng cao tiềm lực KH&CN để các doanh nghiệp tham gia các chuỗi sản xuất, cung ứng xanh, bền vững trong và ngoài nước./.
Đồng chí Đỗ Hải Điền
Giám đốc sở KH&CN